Con người sinh ra tự do nhưng ở đâu cũng có xiềng xích. J.J. ROUSSEAU.

22 thg 7, 2022

Đường Trong Rừng

 

Kiều Giang
“ Cảm ơn đời, mỗi sớm mai thức dậy,
được có thêm ngày mới để yêu thương”
Kahlil Gibran
có người đang uốn những cành cây để chờ con mồi,
bạn hỏi cành cây đang chờ gì,
cành cây không chờ gì cả
vì ta chỉ thấy màu xanh trong đôi mắt của lá,
đang tư lự,
và đôi môi của lá đang cười,
không ai viết được hận thù lên nền trời xanh,
một đóm lửa từ hồng hoang,
mãi còn ấm nơi này.
Tôi muốn nhốt những chiến công
của Alexandre đại đế,
vào cái lọ đôm đốm
của tuổi thơ tôi,
rồi cho mẹ tôi thắp sáng nơi sinh nở của bà,
trong những đêm dài trung cổ.
Ở đầu thế kỷ này,
chúng ta nên quay mặt vào nhau
như hai bức tường đã tróc hết vữa,
không cần phải khoe khoang súng đạn,
một thứ tương lai lố bịch,
một thứ mặc cả phì cười,
lời nói dối
thường bắt đầu từ một cánh hoa,
qua đài hoa,
rồi cuối cùng theo rễ cây
xuống đất đen và bóng tối.
Những tham lam, mệnh lệnh, những giấc mơ,
những mưu toan,
đang quyện vào nhau trên đầu chúng ta,
chúng cười hô hố trong những bữa đại tiệc,
được nấu bằng những nụ cười của loài gián.
không có gì để phải hận thù,
mũi tên tự nó sẽ tìm đường trở lại
nơi mà nó bắt đầu.
Ta chỉ muốn vuốt ngược mái tóc em,
như mái tóc của tạo hóa,
để lộ ra đôi mắt sáng rực,
khao khát tìm ra con đường,
dẫn tới khu rừng có nhiều tiếng chim,
còn hạnh phúc hơn cái ngày ta khao khát nhau.
SG. 15-4-2022

Nguòi Đi Tìm Bóng


Truyện ngắn Kiều Giang
Giữa khuya mồng hai Tết, trong giấc ngủ chập chờn, hắn thấy một con ngựa ô, không biết từ đâu,xông vào nhà hắn, hất tung cái kính cổ treo trên tường, lồng khung gỗ mun bóng loáng, được tổ tiên hắn truyền lại qua nhiều đời. Cái kính vụn vỡ. Hắn lặng câm chết điếng. Mấy ngày liền hắn bỏ ăn, bỏ làm, mặt thất thần ngây ngây dại dại, quanh quẩn mãi trong nhà, không nói với ai một lời.
Sau cái đêm kinh hoàng ấy, hắn thấy bầu trời như tối sầm, những vầng mây đen hoang dại như cứa lên thân phận hắn, mặt đất run cầm cập, không hiểu sao, hắn lại lẩm bẩm “ thế là hết”. Và con ngựa hoang cũng đã mất dạng vào bóng đêm, ma quái, huyễn hoặc.
Người ta lại thấy hắn lặng lẽ, mặt cúi gầm, nhặt từng mảnh kính vỡ, không sót một mảnh nào, cho vào một chiếc túi vải, đem cất trong buồng riêng, khóa chặt cửa, có người cười, bảo là hắn điên, cất làm gì, sao không đổ phứt đi, rồi mua cái kiếng khác. Miệng hắn ngậm như thóc, lạnh lùng, chỉ đưa mắt nhìn xa xôi.
Rồi một ngày, bất ngờ, người ta thấy hắn trải một tấm khăn lụa trắng, mới tinh, mà hình như hắn đã cất giữ từ lâu lắm, không ai hay như chính thân phận hắn, lên chiếc bàn của bộ trường kỷ chạm xà cừ lấp lánh, cha hắn truyền lại cho hắn. Hắn dán từng miếng kính vỡ lên chiếc khăn lụa rồi ngồi thừ người ra. Không biết hắn thấy gì trong những miếng kính vừa ráp lại? Chênh vênh. Nhăn nhúm. Lỗ chỗ những khoảng trống. Có lẽ, may ra còn thấy được cái bóng chập chờn của hắn, vì tấm kính trước khi vỡ, cũng đã úa mờ.
Đêm hôm sau , hắn không ngủ, vào phòng mình, đóng chặt cửa, treo tấm lụa lên tường, tĩnh tọa trước ngọn nến trắng, đăm đăm soi bóng mình trước chiếc kính mà hắn vừa chắp vá, ráp lại, hắn giật mình thấy hàng ngàn chiếc bóng của hắn hiện lên những mảnh kính vỡ, nhưng tất cả đều lộn ngược, tất cả không còn theo một trật tự nào cả, râu tóc hắn bỗng chốc trắng như mây, đang bị thổi tung trong bầu trời đầy giông bão, nỗi buồn ẩn sâu vào đôi mắt, ánh lên niềm khát vọng xa xôi, bí ẩn như một huyền ngôn, mà chính hắn cũng vô cùng kinh ngạc. Có điều lạ hơn là chi chít những con chữ bám đầy lên người hắn, không tạo thành một câu chữ nào mà hắn có thể hiểu được, một thứ mật ngữ đang bám theo hắn, hắn bất lực, không thể giải mã. Hắn thật sự không hiểu, cái xác thân hắn đang ngồi đây và cái bóng trong từng mảnh gương kia, cái nào là có thật, hay cả hai đều thật, hay cả hai đều ảo, tâm hồn hắn trở nên bấn loạn.
Nếu như cha mẹ hắn không để lại ngôi nhà, không có con ngựa ô xông vào đêm mồng hai Tết, làm vỡ chiếc gương soi của hắn, và hắn không tỉ mỉ ráp lại từng mảnh kính vỡ, thì có lẽ hắn đã không phải đứng trước nỗi kinh hoàng này.
Bây giờ hắn lại cười, nhưng nụ cười chưa kịp mở, lại cũng tắt ngay trên môi. Trong chiếc gương vỡ lại hiện lên cảnh mẹ hắn bế hắn đứng trước gương, lúc hắn sáu tháng tuổi, nhưng tất cả đều chổng ngược, thấp thoáng hình một bà già bế một đứa con nít nhưng râu tóc đã bạc phơ, đứa trẻ nhoẻn miệng cười, háo hức chồm người vào trong gương, như muốn thoát khỏi tay mẹ… Hắn ngậm ngùi như muốn níu lại thời gian. Nhưng hắn biết rõ là mình bất lực, hắn nhắm mắt.
Khi hắn mở mắt ra, một cảnh tượng kỳ bí lại diễn ra trước mắt hắn, trong gương. Bất giác hắn òa khóc, khóc ngon lành như trẻ con, khóc như chưa bao giờ được khóc, thèm khát khóc, nước mắt hắn như từ suối nguồn vô tận, thê thảm, chua chát, cứ tưởng rằng đó là cảnh đưa tang mẹ hắn, vì quá thương mẹ nên hắn đã ứa máu con tim, nhưng không, đó là một ngày vui nhất đời hắn, một đám cưới.
Lạ thật, một luồng ký ức thoáng qua đầu hắn, nếu như đám cưới ngày xưa của hắn tưng bừng rộn rã sang trọng bao nhiêu thì cảnh hôm nay trong gương, lại hiu hắt, tiêu điều, khốn cùng bấy nhiêu. Hôm ấy là một buổi sáng cuối đông, đầu xuân, trên nền trời trong xanh, những cánh én đang làm bổn phận mà đất trời đã giao cho chúng, chiếc xe hoa lướt nhẹ trên đường rộn rã tiếng chim, chú rể dìu cô dâu trong tiếng pháo giòn tan cùng tiếng vỗ tay chào mừng của hai họ và bạn bè. Cả không gian và thời gian như hoàn toàn thuộc về hai người, đêm ấy họ leo lên thiên đàng tình ái không cần mượn thang của chúa trời. Nhưng sao hôm nay lại là một ngày mưa dầm, quan cảnh thê lương tiêu điều, chiếc xe hoa lội nước trên đường, những cành hoa gắn trên xe sũng ướt, rũ rượi tả tơi, bầu trời mây đen vần vũ, hình ảnh đôi uyên ương chập chờn mờ nhạt, nhăn nhở, nức nẻ.
Hắn lại thấy bão tố nổi lên nơi hang động yêu đương, đèn hoa ngậm ngùi sương gió, hắn bắt đầu một đoạn đường đời tàn lụi ái ân, nhìn vào tấm gương vỡ, hắn lại khóc, hắn lẩm bẩm trong đầu “không, không phải, nhất định không phải đám cưới của ta”.
Những mảnh gương vỡ lại tiếp tục hiện về những hình ảnh ngược, người ta cắm đầu xuống đất để chém giết nhau, nhưng máu lại cứ chảy ngược lên trời, bầu trời nhuộm một màu đỏ thẫm, máu và lửa đang bao trùm đời hắn, nhưng thật kỳ lạ, không nhuộm đỏ, cũng không đốt cháy được những con chữ cứ bám chặt theo hắn, hòa vào máu của hắn, một tồn tại bất tử và thầm lặng. Lại một lần nữa, hắn cảm thấy bơ vơ, ngỡ ngàng trước số phận.
Rồi hắn thấy mình cố bước đi trong gương về phía trước, mặc cho máu và lửa vẫn cứ bám theo hắn, một cuộc rượt đuổi hình như vô tận…
Đêm ấy hắn ngất đi trước tấm gương, bên cạnh ngọn nến trắng vẫn còn đang cháy….

12 thg 6, 2022

Mảnh Đạn

 

Tiểu thuyết ít chữ của Kiều Giang
[Tiếp theo và hết]
6. Thu Sương lần theo thư mục “Thơ văn trong nước” trên giá sách của thư viện phố núi, nàng dừng lại “mục thơ” và rút ra một quyển. Tựa tập thơ “Dấu chân trên sa mạc”. Thấy tựa lạ, cô liếc nhanh tác giả, Nguyễn Ngọc Huy. Cô hơi sững: “chẳng lẽ trùng tên?”. Cô lật sang bìa 2, hình và sơ lược tiểu sử tác giả. “Ôi, đúng rồi, anh còn sống! Bây giờ là một nhà thơ”. Cô áp đôi bàn tay cùng tập thơ lên ngực, mặt ngước lên trời, như người ta đang cầu nguyện. Phút giây kỳ diệu lướt qua cuộc đời . “Người về từ cõi mộng trăm năm”, một chút mật ngọt chảy qua tâm trí nàng. Thu Sương cố tìm nơi đang ở của Huy, nhưng chỉ biết địa chỉ của nhà xuất bản. Cô ra về, trong lòng ngổn ngang những nỗi đời. “Rồi ta cũng sẽ tìm ra…”, cô nhẩm trong đầu.
Từ đó, đêm nào, sau giờ đóng cửa quán, Thu Sương cũng nằm say mê nuốt từng lời thơ của Huy.Thắng đi nhậu về với điệu bộ chệnh choạng, say mèm, nôn ói và lảm nhảm. Cô bất đắc dĩ phải dụ cho anh uống những viên thuốc an thần. Cuộc sống của nàng bắt đầu lơ lửng, gầy guộc, nhức nhối, giữa địa ngục của hơi men và thiên đường của những bài thơ tình cháy tim cháy ruột.
Sau từng đêm vật lộn với rượu và thuốc ngủ, sáng nào thức dậy ông Thắng cũng ôm đầu vật vã trong cơn đau. Lần hội chẩn đầu tiên, bệnh viện cho biết ông bị hai mảnh đạn trong đầu kết hợp với rượu đã gây nên những cơn đau ác tính, nếu phẩu thuật thì tỉ lệ thành công là rất thấp, bệnh nhân khó giữ được mạng sống hoặc phải nằm liệt suốt đời. Giải pháp tối ưu là bệnh nhân phải bỏ rượu và dùng thuốc an thần. Mỗi lần ông Thắng lên cơn, Thu Sương rất hãi hùng, nhưng nàng không dám quyết định có nên giải phẩu hay không. Nàng chỉ biết van xin chồng đừng uống rượu nữa. Nhưng thật vô ích, con ma men đã mỉm cười khinh bạc, chế giễu nàng.
Kể từ khi ông Thắng phát hiện Thu Sương say sưa đọc tập thơ “Dấu chân trên sa mạc”, ông đã tìm ra người yêu của nàng từ tuổi học trò là Huy, bây giờ là nhà thơ đang còn sống và khá nổi tiếng, có nhiều bài thơ phổ nhạc, hát trên đài. Vậy là ngoài cái di chứng của chiến tranh và những cơn ngất ngư của Lưu Linh truyền lại, ông còn mang thêm cái máu đàn bà, máu của Hoạn Thư. Không đêm nào là ông không lè nhè tra vấn những câu thô bỉ, vô nghĩa: “hồi đó cô quen thằng nhà thơ đó như thế nào, hai người đã có gì với nhau chưa, thơ của hắn chỉ toàn rên rỉ vì nhớ người yêu cũ”. Rồi ông tưởng tượng xa hơn “Chắc là cô đã gặp lại hắn, gần đây tôi thấy cô ngơ ngẩn, chết lặng hàng giờ”. Thu Sương thầm nghĩ: “anh ta càng gợi cho mình nhớ Huy hơn, rất da diết !”. Những câu thơ như “Bây giờ anh xa em/ Một nỗi đau thầm lặng/ Anh viết lên vầng trăng/ Huyền ngôn đời thăm thẳm…” đã làm rờn rợn trên da thịt cô, và nỗi đau thắt ruột. “Huy ơi, dòng sông đã chia hai ngả tự bao giờ? Anh bây giờ ra sao, ở đâu? Trong tập thơ đó, anh chỉ viết cho tình yêu của chúng ta, và từ đây anh lại dạy cho em thứ ngôn ngữ không lời để nói về tình yêu của em. Nỗi nhớ đang hành hạ em và em hoang mang đến cùng cực”.
Hôm nay, đã quá 11 giờ đêm, ông Thắng mới về nhà. Ông cố bò lên gác, hai tay ôm đầu nhưng không lảm nhảm như trước. Thu Sương vẫn ngồi đọc sách như thường lệ, Trường Sơn ngồi bên cạnh học bài. Ông Thắng gầm lên:
– “Vẫn là thơ, vẫn là thằng khốn kiếp đó. Nó trở về cướp cô khỏi tay tôi”.
Thu Sương hốt hoảng:
-“ Không anh ơi! Chỉ là thơ thôi mà. Em vẫn là vợ của anh. Hàng ngày em vẫn lo chu đáo cho anh!”
-“ Cô chỉ còn cái xác, mỗi ngày cơm nước cho tôi, còn cái hồn, cô đã giao cho hắn. Cô khinh tôi là một thằng thương binh nát rượu, bây giờ trở thành gánh nặng, cái bóng ma trong đời cô !”.
– “ Không đâu anh ơi, hồn xác em vẫn là của anh”.
-“ Láo…láo… cô tưởng cô lừa được tôi hay sao? Mảnh đạn trong đầu đã gắn liền với số mệnh của đời tôi. Hôm nay tôi không muốn sống trong trái tim trống rỗng của cô nữa, và tôi cũng không muốn trao cô cho hắn, cô phải đi theo tôi đời đời kiếp kiếp, vì sao cô biết không, vì tôi mãi mãi yêu cô, dù sang bên kia thế giới, tôi vẫn cần có cô”.
Trong cơn điên loạn vì ghen, đầu lại đau như búa bổ, ông Thắng chạy lại giật tung cánh cửa hộc tủ nhỏ ở đầu giường, lấy ra khẩu súng ngắn chỉa thẳng vào Thu Sương. Nàng quỳ xuống đất, vái lia lịa “Anh ơi hãy để em sống nuôi con, em van anh…”. Bé Trường Sơn nhào tới ôm cha, nhưng súng đã nổ, bé ngã ngược lại phía sau, còn Thu sương gục xuống ôm ngực ràn rụa máu.
Ông Thắng chỉa họng súng vào đầu, nhưng có lẽ vì tay run, viên đạn trượt, bay thẳng lên trần nhà, làm sướt da đầu, máu tuôn xối xả. Ông còn bấm cò lần cuối nhưng súng đã hết đạn.
Vở bi kịch về cuộc hôn phối của thiên đàng và địa ngục, giữa “thua cuộc và thắng cuộc”, giữa tình yêu và quyền lực đã kết thúc với sự ra đi tức tưởi của hai mẹ con người thục nữ mệnh bạc, sau 20 năm đất nước hòa bình. Người cán bộ, người thương binh, điên loạn trong trại tâm thần cũng đi theo đồng đội về bên kia thế giới không lâu sau đó. Người ta không biết phải tiễn ông theo nghi thức nào, nghi thức của một anh hùng quân đội hay của một tên tội phạm giết người? Sự nghich lý của cuộc đời vẫn không buông tha cho loài có sẵn nụ cười và tiếng khóc…
7. Bằng đôi bàn tay xòe, Huy đưa 3 nén nhang lên tầm trán, thì thầm trong đầu: “Thu Sương ơi, hôm nay anh gặp lại em cũng là lúc âm dương vĩnh viễn chia cắt đôi ta. Anh chưa bao giờ tưởng tượng nổi điều này. Những hy vọng và ước mơ của anh trong suốt 30 năm, giờ đây thực sự đang quằn quại dưới dấu chấm hết mà bàn tay vô tình của thượng đế đè xuống đôi ta… Những vần thơ anh viết cho em từ bây giờ cũng chỉ lơ lửng cùng mây trời quanh quẩn nơi nghĩa trang hoang lạnh này. Có lẽ không còn ai dám đổ cho số mệnh đâu em, tất cả đều có từ một hiện hữu rất khắc nghiệt, chiến tranh. Những bi kịch trong xã hội ngày nay cũng là do những mảnh đạn sót lại trong từng ngõ ngách của cuộc đời mà có lẽ còn lâu dân tộc này mới gắp ra hết. Thôi em nhé, xin hãy chờ anh”. Sau lời nguyện, anh nhìn sâu vào đôi mắt đen thăm thẳm trong tấm hình khắc trên bia mộ, và có cảm giác như Thu Sương đang đứng cạnh anh, chứ không phải là đứa con gái của nàng.
Huy nắm tay Thảo Nguyên lặng lẽ bước đi dưới hai hàng thông ngậm ngùi vi vu trong gió. Ra khỏi nghĩa trang, hai người hướng về phía Biền Hồ, nơi mà cách đây không lâu, trong một đêm thu, một mình trên chiếc thuyền nan, anh linh cảm đôi mắt nàng nơi đáy hồ trong xanh thăm thẳm.
Mặt trời chạm xuống đồi núi phía tây, những dải nắng cuối cùng lướt trên mặt hồ như những thanh kiếm bạc lung linh huyền ảo, cố níu một vẻ đẹp hoang sơ mà tạo hóa đã dành ban tặng cho một vùng cao nguyên kỳ vĩ, như một bức bích họa mà Thượng Đế đã vẽ trên nền trời xanh.
Màn đêm đang phủ lên vùng sơn thủy u tịch đầy tính lãng mạn của thiên nhiên ở nơi này, người ta lại thấy một thiếu nữ thướt tha xinh đẹp trong chiếc váy đầm dài phủ chân, đôi mắt sâu đen như chứa cả bầu trời vùng cao nguyên thơ mộng, bước xuống một chiếc thuyền nang, rồi chèo ra giữa lòng hồ. Không ai hiểu được mục đích của cô gái, người ta chỉ thấy bóng của nàng in trên nền trời đêm như nữ thần tình yêu Aphrodite trong bức tranh thần thoại Hy Lạp. Có khi nàng lại nằm úp mặt lên mặt nước hồ tựa như một tấm gương đêm, chi chít những vì sao xa tít, ngắm mãi đôi mắt của người đàn ông huyền thoại ở dưới đáy hồ, giống câu chuyện nàng tiên đi tìm đôi mắt chàng Narziss của Oscar Wilde.
Kiều Giang. 16-4-2021.
Ảnh: Biển Hồ ở Pleiku Gia Lai.
- Kiều Giang ở Merryland Qui Nhơn.
Bạn, Loc Duy Huynh, Nguyen Thi Thu Suong và 14 người khác

Mảnh Đạn


Tiểu thuyết ít chữ của Kiều Giang
[Tiếp theo]
5. Hai năm, sau khi dò biết Quang đã cùng đồng đội bay qua Thái Lan trong những ngày cuối của chế độ miền Nam, và Huy thì như đã lùi xa vào dĩ vãng, vệt máu đã hằn khô trong tim nàng, một tình yêu tuổi trăng tròn, Thu Sương an phận với cái quán nước nhỏ đã sang lại của một người khác, để kiếm sống qua ngày . Dù cuộc sống đã ổn định hơn, nhưng khi có thời gian để lắng nghe nỗi lòng, cô lại thấy nó lạc lõng, trống không. Trong khi đó ông phó chủ tịch Thắng vẫn kiên trì chờ đợi…
Cho đến một ngày ông Thắng phát hiện ra có nhiều người quyền chức đến quán cà phê của Thu Sương trồng cây si tới nửa đêm mới chịu về, ông vội báo cáo với tổ chức và cơ quan, xin cưới Thu Sương làm vợ. Từ đó không ít lời ra tiếng vào: “Một nhà cách mạng thứ thiệt, ông thiếu tá phó chủ tịch thị xã mê cô vợ của một anh lính ngụy tử trận, có sắc đẹp mê hồn”, nhưng ông đã bất chấp. Trong tổ chức cũng có người khuyên ông nên nghĩ đến con đường hoạn lộ đang thênh thang trước mặt mà từ bỏ mối tình ngang trái ấy đi, nhưng ông nhất quyết đi theo lý lẽ của con tim mà lâu nay ông đã bỏ quên, nhưng nó vẫn kiên trì đập trong lồng ngực mình. Ông không muốn chạy theo thứ hư vinh không biết ngày nào trận cuồng phong tranh giành quyền lực sẽ cuốn đi. Có những lúc hoang mang, ông nhớ lại cái triết lý của thằng bạn nhà quê thời trung học: “Tình yêu là vĩnh cửu, còn quyền lực là phù vân”. “Hắn nói đúng, nàng là hơi thở, là lẽ sống của cả cuộc đời ta. Ta thà bỏ tất cả chứ không thể bỏ nàng vì giờ đây nàng đã là của ta”, ông thiếu tá cán bộ thành phố nghĩ thầm. Hai mảnh đạn pháo vẫn còn nằm im trong đầu ông, lâu nay là cái bùa hộ mệnh cho sự nghiệp chính trị của ông, nhưng nay, muốn đẩy ông xuống hố, người đồng chí của ông cũng có thể chỉ ra hai cái bùa mê mà Thu Sương đặt vào tim ông, để rồi kết luận ông là kẻ hủ hóa, biến chất. Lường trước những rủi ro có thể xảy ra, phòng khi ông bị đá văng ta khỏi tổ chức, ông đã chỉ đạo cho đàn em hợp thức hóa cho Thu Sương căn nhà trong khu gia binh cũ và cấp cho ông một căn khác mặt tiền đường phố, nhà của một quan chức chế độ cộng hòa đã bỏ chạy.
Trong 5 năm trăng mật với ông thiếu tá phó chủ tịch thị xã, dù hình ảnh của Huy và Quang vẫn không mờ nhạt trong lòng Thu Sương, nhưng nàng luôn cố tỏ ra rằng mình rất hạnh phúc. Nàng trở thành ngôi sao sáng chói trong hàng ngũ vợ của cán bộ trong thành phố. Ông Thắng biết rất rõ điều đó. Theo lời dặn của ông, nàng không dám son phấn chưng diện gì trong các buổi lễ tiệc, nhưng nàng cũng vẫn làm cho hàng quan chức thành phố phải ngoái đầu nhìn theo, một cách thèm thuồng, kinh ngạc, rồi họ ghé vào tai nhau xầm xì ganh ghét. “Vợ của một tên ngụy quân !”, câu cửa miệng của họ là vậy, và sau đó là những ngọn giáo chỉa vào lưng ông Thắng. Nhưng nghiệt nỗi ông lại là một sĩ quan thương binh có nhiều huân huy chương, vừa là con liệt sĩ, nên họ chưa thể làm gì được.
Năm nay, bé Lâm Trường Sơn, đứa con chung của Thu Sương và ông Thắng lên 6, phe ông chủ tịch thị xã thắng thế trong thị ủy, lại có kẻ phát hiện Thu Sương không phải là vợ của một hạ sĩ lính cộng hòa tử trận mà là vợ của một đại úy phi công trốn chạy trong ngày 17-3. Ông bị các đồng chí của ông kiểm điểm, gán cho ông cái tội bao che cho vợ kẻ thù, lập trường quan điểm thiên hữu, phản động. Ông bị đẩy xuống làm một chân cán bộ quèn trong phòng Thương binh xã hội, chẳng còn chút quyền hành gì. Ông Thắng chua chát: “Kẻ thù thì đã bỏ đi hàng chục năm rồi, nhưng chúng gửi lại cái bóng trong đầu của các đồng chí của ta, bây giờ ta là kẻ thù của họ, còn ai là kẻ thù của ta?”. Rồi ông ngậm ngùi: “ Thương cho Thu Sương, một cánh hoa trang đài hiền thục, mới đôi mươi đã bơ vơ trước làn tên mũi đạn. Nàng như giọt “sương thu” buổi sớm mai trên cành, không có tội lỗi gì. Giá như hôm đó ta đuổi nàng ra khỏi nhà với đứa trẻ sơ sinh trên tay thì không biết dòng đời sẽ đưa nàng về đâu ? Vậy là bàn tay nghiệt ngã của tạo hóa, đôi khi cũng phải có điểm dừng”.
Rồi chỉ ba năm sau, ông Thắng có quyết định về hưu non do thành tích chiến đấu và là thương binh. Ông cảm thấy hụt hẫng, biết mình bị “đẩy”, nhưng đó là quyết định của tổ chức, một thói quen của tổ chức, không ai có quyền khiếu nại.
Ngày về vườn của một người từng có quyền thế của thành phố mà không có lấy một bữa tiệc chia tay, ông Thắng cảm thấy vừa đau buồn, vừa uất ức vì sự bạc bẽo đến bỉ ổi của quan trường. Dù được Thu Sương ân cần chia sẻ, nhưng ông Thắng chưa thể quên đi phong cách của một kẻ quyền thế, được người khác khom lưng cúi đầu. Trước đây Thu Sương là cái bóng của ông, bây giờ thì ngược lại. Hàng ngày ông chỉ quanh quẩn bên vợ, bạn bè thưa dần, không còn ai mời mọc, săn đón.
Nổi tiếng là một bà chủ quán cà phê có sắc đẹp mặn mà nhất thành phố, quán nàng ngày một đông khách. Điều đó không những làm cho ông Thắng không vui mà còn thêm lo lắng, nhất là khi thời gian đã điểm bạc mái tóc ông và mảnh đạn trong đầu càng làm cho cái cằm của ông thêm méo lệch. Nhiều lúc chứng kiến cảnh những chàng trai non tơ lịch lãm nói chào tâng bốc Thu Sương, ông đã nhíu mày khó chịu, dù ông thấy vợ ông ứng xử rất đúng mực với phong cách của một người đàn bà có chồng. Từ đó ông đâm ra trầm ngâm tư lự.
Thế rồi ông bắt đầu mượn rượu để giải sầu, bước ngoặc cuộc đời của một người đã từng thét ra lửa, là mẫu mực, là biểu tượng của chế độ mới. Nhưng đó lại là nỗi ám ảnh thường trực cả cuộc đời còn lại của Thu Sương. Gần như đêm nào cũng vậy, sau giờ đóng quán, là nàng phải giải quyết căn phòng nồng nặc mùi rượu thịt từ con ma men thải ra. Nàng ôm ngực, vừa ràn rụa nước mắt, vừa đè nén cơn nôn đang cuồn cuộn trong ngực nàng.
“Có ngờ đâu, ngày ấy chính Thắng đã ra lệnh cho tên lính mở cho ta cánh cửa của sự sống, bây giờ cũng chính anh đang dần khép nó lại”, nhiều lúc nàng nhủ thầm chua chát.
Không khí trong nhà dần trở nên tẻ nhạt. Ngoài kia người ta vẫn chỉ bàn đến chủ nghĩa, nghèo đói và chiến tranh. Một sự hối hả thầm lặng lướt qua khuôn mặt xã hội. Bo bo, củ khoai, vượt biên và cuộc chiến biên giới phía Tây Nam và phía Bắc bỗng thành đề tài ăn khách trong các trang báo. Thu Sương mất phương hướng. Ba người đàn ông đã bỏ nàng ra đi bằng những cách khác nhau, một người đi tìm lối để thoát ra ngoài cuộc chiến, một người đang trong cơn binh lửa, và một người nữa dù sống trong cùng một ngôi nhà nhưng đã như không còn hiện diện trong cuộc đời nàng. Người đàn bà chưa tới nửa chừng xuân bỗng thấy mình vô gia đình, trong hồn nàng chỉ còn nỗi cay đắng cô đơn, một cái hố đen không đáy. Phải chăng nàng đang chạy trốn trong chính tâm hồn mình!
-Ảnh trên internet
- Với nhà thơ PTT.
Bạn, Nguyên Bình, Dũng Tôn Thọ Dương và 49 người khác
20 bình luận
Yêu thích
Yêu thích
Bình luận
Chia sẻ