Con người sinh ra tự do nhưng ở đâu cũng có xiềng xích. J.J. ROUSSEAU.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiên cứu văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiên cứu văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

1 thg 4, 2018

Tại Sao Chúng Ta Cần Homer?


Kiều Giang dịch từ bài hàng tháng số 584, tháng 10 năm 2017, của báo Pháp Le Magazine Littéraire
Từ thời xa xưa cho đến hôm nay, vô số các nhà văn đã tái tạo hình ảnh của Homer. Bây giờ đến lượt Daniel Mendelsohn (sinh ngày 16-4-1960 tại New York, từng học văn học cổ điển, một tác giả viết hồi ký, nhà văn tiểu luận, nhà phê bình, và là một dịch giả người Mỹ)*,là tác giả của Disappeared (tạm dịch: những người mất tích), người đã kể lại sự liên hệ muộn màng của mình với người cha, dưới sự bảo hộ của The Odyssey , trong khi nhà ngữ học về Hi Lạp Pierre Judet de La Combe, đang mạo hiểm diễn tả một cách tinh tế tiểu sử của một “người đàn ông huyền bí”.
Vậy Homer dạy cho chúng ta điều gì hôm nay?

5 thg 5, 2015

Một Cuộc Tìm Kiếm Mỹ Thuật / Từ Khóa - Deconstruction - huệ viên




46 hoc ve


Đã đăng Một Cuộc Tìm Kiếm Mỹ Thuật kỳ: [1] [2} [3][4] 

CHƯƠNG II
TỪ KHÓA DECONSTRUCTION

Decontruction (hiện trong giới học thuật Việt Nam vẫn chưa thống nhất được dịch là hủy cấu trúc, giải cấu trúc, hủy kiến tạo hay giải kiến tạo) là một tư tưởng triết học cuối thế kỷ XX có ảnh hưởng rất lớn đến kiến trúc, âm nhạc, đồ họa đương đại, cụ thể là sự bùng nổ của các công trình kiến trúc mang phong cách deconstructivism. Nhưng quả thật khái niệm deconstructivism trong kiến trúc mà thế giới hiểu hiện nay chưa hẳn được tiếp thu hoàn toàn từ tư tưởng deconstruction do triết gia Jacques Derrida khởi xướng mà chủ yếu dựa vào sự suy diễn theo cách của mỗi kiến trúc sư. Vì thế, thay vì bắt chước các công trình của các kiến trúc sư deconstructivism nổi tiếng hiện nay như Frank Gehry, Rem Koolhass, Daniel Libeskin, Zaha Hadid (mà theo chúng tôi phần lớn chúng là sự kết hợp của chủ nghĩa cấu trúc Nga (constructivism), chủ nghĩa hậu hiện đại (post-modernism) và deconstruction), trước hết chúng ta nên ngẫm lại những điểm mấu chốt trong tư tưởng triết học của Derrida, từ đó mỗi nghệ sĩ xem có thể học được gì để phát triển phong cách riêng của mình.

10 thg 2, 2014

PHẠM CÔNG THIỆN, Hiu Hắc Quê Hương Bến Cỏ Hồng

Thích Phước An
Bài cùng tác giả


Ở đây, trên đồi cao vắng vẻ, vào mỗi chiều tôi vẫn thường ra đứng nhìn mặt trời khuất dần nơi các rặng núi phía xa, rồi chạnh lòng nhớ đến những người thân đã đến rồi ra đi không bao giờ về thăm lại ngọn đồi cao này. Tất nhiên, trong đó hình bóng của anh Phạm Công Thiện, một thanh niên tài hoa vừa mới từ giã Sài Gòn về đây suốt ngày tự nhốt mình trong một căn phòng đầy sách cùng những câu thơ mà anh đã từng sáng tác ở đây, vào những đêm dài heo hút hay những chiều buồn lê thê, lúc nào cũng sống lại đậm đà trong kí ức xa xôi của tôi:

Hồi chuông chùa vọng luân hồi
Chim chiền chiện hót ngang trời đau thương
Trùng dương nằm đợi vô thường
Đồi cao bạt gió hai đường âm u.

Hay hai câu mà gần như những ai đã từng đọc thơ Phạm Công Thiện thì đều thuộc nằm lòng:
Mưa chiều thứ Bảy tôi về muộn
Cây khế đồi cao trổ hết bông.

26 thg 9, 2013

Triết Gia Và Thi Sĩ

                            
            BÙI VĂN NAM SƠN

Trong Bùi Giáng, sơ thảo tiểu truyện (i), nhà phê bình văn học Đặng Tiến nhận định có tính tổng kết về văn nghiệp Bùi Giáng như sau : “ Trên cơ bản, Bùi Giáng là nhà thơ ”. Thế nào là “ trên cơ bản ” ? Tôi không muốn hiểu câu nhận định trên đây theo nghĩa thông thường của sự phân loại, đánh giá về văn nghiệp của một tác giả : Bùi Giáng trước hết và trên hết, hay, tựu trung, là một nhà thơ, nói khác đi, phần có chân giá trị là sự nghiệp thi ca của ông, còn các phần còn lại là thứ yếu, không “ cơ bản ”. Thật ra, trong khối lượng đồ sộ và đa tạp của Bùi Giáng “ văn xuôi ”, dù khó tính đến mấy, ta vẫn có thể chắt lọc ra không ít những trang tuyệt bút từ các Giảng luận văn học (Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan đến Phan Văn Trị / Tôn Thọ Tường và Tản Đà), các tùy bút văn chương, các nghị luận triết học, đó là chưa kể một số bản dịch thành công khá đặc biệt. Trong chừng mực nào đó, chúng có giá trị tự tại, độc lập với việc có hoặc không có “ Bùi Giáng nhà thơ ”. Vì thế, tôi muốn thử hiểu nhận định trên đây theo một cách khác : dù là văn xuôi hay thơ, Bùi Giáng vẫn “ trên cơ bản, là nhà thơ ”, theo nghĩa : Bùi Giáng có ý thức sử dụng ngôn ngữ theo nghĩa rộng như là “ ngôn ngữ thi ca ”. Chính điều này tạo nên nét riêng biệt, độc sáng của thi văn Bùi Giáng, và đồng thời mời gọi ta hãy đến với Bùi Giáng theo cách hiểu ấy.
Như ai cũng dễ nhận ra, và như chính Bùi Giáng đã thừa nhận, bút pháp và thơ của Bùi Giáng thoạt đầu xuất phát từ cội nguồn Thơ Mới. Nhưng, do một sự tương ứng sâu thẳm nào đó và cũng là một cơ duyên, việc Bùi Giáng tiếp cận và tiếp thu tư tưởng, nhất là triết học về nghệ thuật, của Heidegger, theo chúng tôi, là một trường hợp khá hy hữu : nó thanh tân, trọn vẹn và chung thủy đến lạ thường. Sự gặp gỡ này còn có sự hiện diện của một nhân vật thứ ba có ý nghĩa quyết định : thi sĩ Đức Friedrich Hölderlin. Heidegger là triết gia, Hölderlin là thi sĩ, sống cách nhau ngót hơn một thế kỷ, nhưng thật lạ lùng khi Heidegger từng nhiều lần nhấn mạnh rằng ông không còn có thể phân biệt mình với Hölderlin được nữa (ii! Tự nhận mình đồng nhất với một người khác, nhưng không ai nghĩ rằng Heidegger tự “ đánh mất mình ” trong mối quan hệ lạ thường ấy. Ta cũng có thể nói hệt như thế về mối quan hệ tay ba : Heidegger – Hölderlin – Bùi Giáng ! Trong bài tham luận ngắn này, chúng tôi muốn lưu ý đến mối quan hệ lạ thường này như một nỗ lực góp phần soi sáng quan niệm sống, sáng tác và suy tưởng của Bùi Giáng.

1. Triết gia – thi sĩ :


Quyển Giảng giải về Thơ Hölderlin của Heidegger (iii) (tập 4 trong Toàn tập) chỉ ngót 200 trang, nhưng đã được Bùi Giáng dịch và diễn giải hơn 1000 trang, chia làm hai tập : Lời Cố quậnLễ Hội Tháng Ba. Có thể nói đây là công trình văn xuôi quan trọng nhất và cũng phức tạp, sâu sắc nhất của Bùi Giáng. Theo một cách nói quen thuộc, chính ở đây, Bùi Giáng đã đi từ “ tự phát ” đến “ tự giác ” trong quan niệm sống và sáng tác văn chương.
Hölderlin (1770-1843) là một trong những thi sĩ nổi tiếng nhất của nước Đức, bạn đồng học và có ảnh hưởng sâu đậm đến hai khuôn mặt lớn của triết học Đức : Schelling và Hegel. Đáng chú ý : Hölderlin cũng có định mệnh tương tự Bùi Giáng : hơn 30 năm cuối đời sống trong trạng thái “ điên tam đảo tứ ” ! Ta biết rằng Heidegger có những bài giảng đầu tiên về Hölderlin vào những năm 1934-35 (ngay trước khi soạn luận văn nổi tiếng : Nguồn gốc của tác phẩm nghệ thuật (iv)). Ông tiếp tục bàn về Hölderlin cho tới 1946, được tập hợp lại thành sáu luận văn trong tác phẩm vừa kể. Bùi Giáng nhận định : “ Mười năm sau Sein und Zeit [Tồn tại và Thời gian, 1927, tác phẩm chính của Heidegger], Hölderlin xuất hiện trên hầu hết những cuốn sách của Heidegger mỗi phen tư tưởng của Heidegger bước tới điểm quyết định ”. “ Riêng cuốn sách Giảng giải về thơ Hölderlin này mang một ý nghĩa trầm trọng và sâu xa như thế nào trên con đường tư tưởng của Heidegger, thành tựu một cái gì cho Tư tưởng Tây phương, chuẩn bị cho một cuộc hội thoại lặng lẽ mênh mông nào khác, những người theo dõi Heidegger ắt đã từng nhận thấy ”. “ Người nào đã đọc kỹ từ lâu cuốn sách dị thường ấy của ông Heidegger, ắt đã rõ nguyên do lối sắp đặt thứ tự các bài giảng… Và cũng không ngạc nhiên gì nhiều trước lối dịch và giảng dường như kỳ dị của dịch giả ”. Bùi Giáng viết tiếp : “ Nhan đề ấy nói gì ? Có thể hiểu cưỡng bức theo hai cách :
1. Cuộc tiếp cận (của chúng ta với) Hölderlin
2. Cuộc tiếp cận của Hölderlin
Theo nghĩa thứ hai là thế nào ? Hölderlin tiếp cận cái gì ? Ấy là : tiếp cận Uyên Nguyên, đi về cận lập với Uyên Nguyên. Sao gọi là Uyên Nguyên ? Theo nghĩa thứ nhất : chúng ta tiếp cận ? Đi về tiếp cận ? Nhưng Hölderlin không phải là một cá nhân. Nguồn thơ thi dựng của ông là một nguồn Thi nhiên hi hữu. Hölderlin là Nguồn Thơ ấy. Vậy thì tiếp cận Hölderlin là tiếp cận nguồn thơ ấy. Nhưng tại sao tiếp cận mà không tắm mình vào ? Vì đó là Uyên Nguyên và trong khi chúng ta dò dẫm trên bước tiến lại gần, thì Uyên Nguyên cũng đi về với chúng ta trong thể lệ riêng biệt : gần gũi mà xa xôi ” (v)
Đàng sau cách diễn đạt bay bổng nhưng khá tối tăm ấy là diễn trình tư tưởng của Heidegger được Bùi Giáng theo dõi sát sao và thể nhập trọn vẹn. Có thể chia sự “ tiếp cận ” của Heidegger với thơ Hölderlin làm hai thời kỳ : thời kỳ sớm từ 1934 đến 1939 và thời kỳ muộn là 1939-1946, với sự khác biệt quan trọng.
Thời kỳ sớm nổi bật với hai luận văn : “Hölderlin và bản chất của thi ca” (Bùi Giáng dịch và giảng trong Lời Cố quận, An Tiêm, 1972, tr. 146-242) và “Siêu hình học nhập môn” (được Bùi Giáng dịch và giảng một phần trong Trăng Châu Thổ (Quế Sơn, Võ Tánh, 1969, tr. 207-308).
Ở thời kỳ này, Heidegger xem Hölderlin là một thi sĩ quan trọng, nhưng không quan trọng với tư cách thi sĩ, mà như là triết gia - thi sĩ, nói khác đi, tuy Hölderlin làm thơ, nhưng nội dung của nó không phân biệt với triết gia. Thật ra, những đại thi hào Tây phương như Homer, Sophockles, Virgil, Dante, Shakespeare và Goethe thực hiện bản chất của thi ca còn phong phú hơn cả Hölderlin, nhưng tại sao Heidegger lại tập trung vào Hölderlin ? Lý do là vì, theo ông, Hölderlin là nhà thơ làm thơ về thi ca. Ông gọi Hölderlin là “ thi sĩ của những thi sĩ ” (vi) không theo nghĩa tôn vinh về đẳng cấp mà chỉ vì Hölderlin là nhà thơ của bản thân thi ca. Hölderlin đã viết những câu thơ về bản thân thi ca như thế nào, trong chừng mực là một thứ “ siêu-thica ” mang đầy đủ tư cách của một nhà tư tưởng ? Xin điểm lại ngắn gọn năm điểm :
-  Hai điểm đầu tiên có vẻ mâu thuẫn với nhau. Hölderlin gọi thi ca là công việc “ hồn nhiên thơ dại nhất ” (vii), nhưng đồng thời cũng là công việc “ nguy hiểm nhất ” (viii). Vì lẽ thi ca nảy sinh trong ngôn ngữ, nên câu hỏi có thể đặt lại là : ai làm chủ ngôn ngữ và ngôn ngữ hiểm nguy theo nghĩa nào ? Theo Heidegger, ngôn ngữ là cái gì quá “ thân thiết ” với con người, nó có thể “ thôi miên ” ta ở vẻ ngoài khiến ta dễ bỏ qua căn cơ, nền tảng. Sự hàm hồ của ngôn ngữ làm cho cái không bản chất trở thành bản chất, đồng thời biến bản chất thành cái gì nông nổi, bì phu. Đối diện với hiểm nguy ấy, Hölderlin đã trả giá bằng sự điên loạn của mình, một sự cố không thể điều trị hay cứu chữa bằng y học. “ Điên loạn là số phận của Hölderlin ”, vì “ những hoa trái đầu mùa bao giờ cũng thuộc về phần của thần linh ” và Hölderlin là “ hoa trái bi kịch nhất trong lịch sử nước Đức ”. Phải chăng ta cũng có thể nói như thế về Bùi Giáng ?
-  Điểm thứ ba : con người chỉ hiện hữu trong ngôn ngữ, và ngôn ngữ bao giờ cũng hiện hữu trong đối thoại, trong “ nói ” và “ nghe ”. Đó là đặc trưng của con người, bởi chỉ con người mới mang thời tính, tức tìm thấy chính mình ngay trong lòng sự vật khi chúng được từng bước khai mở bằng một cách nào đó. Ngôn ngữ là nơi ta thể nghiệm : hoặc có thể đi sâu vào được vùng ẩn mật, khép kín của thực tại khôn dò, hoặc chỉ phải dừng lại ở bề mặt của sự hiện diện thô sơ.
-  Điểm thứ tư là từ chính lời thơ của Hölderlin : “ những gì bền vững là do thi sĩ thiết lập nên ” (ix). Những gì tưởng như vững bền, thường trụ trong thế gian đều cần được “ thiết lập nên, nếu không, chúng sẽ bị chìm lấp, lẫn lộn trong mớ hỗn mang ”. Để sự vật hiển hiện ra cho ta, ta phải đứng vào vùng ánh sáng thích hợp. Như thế, con người không chỉ thụ động ngồi nhìn sự vật chung quanh, rồi gọi tên chúng. Ngược lại, chính thi sĩ đặt tên cho chúng, và chỉ có việc đặt tên này mới thiết lập nên sự vật. Sự vật và bản thân Tồn tại không bao giờ phơi bày mà phải được sáng tạo và thiết lập. Thi sĩ có vai trò trung tâm trong sự hiện hữu của con người (x).
-  Và sau cùng, điểm thứ 5, lại từ một câu thơ khác của Hölderlin : “ con người sống trên đời như một thi sĩ ” (xi). Sống như một thi sĩ là sống giữa lòng những gì thiêng liêng, vừa ẩn giấu, vừa vẫy gọi, mang ta đến gần bản chất của sự vật. Sự hiện hữu được thi sĩ tạo dựng và thiết lập là một quà tặng được ban cho ta, bên ngoài quyền năng của cá nhân mỗi người. Cũng thế, thi ca không chỉ là một trò chơi với những từ ngữ và ngữ pháp đã có sẵn, trái lại, cấu tạo nên bản chất của ngôn ngữ, qua đó, cấu tạo nên cả mối quan hệ của một dân tộc với vận mệnh lịch sử của mình. Thi sĩ không tái tạo cái khả kiến, trái lại, làm cho nó trở nên khả kiến. Đó cũng là ý của Hölderlin khi nói về Oedipus, nhân vật thần thoại đã tự móc mắt mình : “ Có lẽ đức vua Oedipus có thừa một con mắt ! ”. Như Heidegger nhận xét : có lẽ Hölderlin cũng có thừa một con mắt ! Hölderlin là thi sĩ của thời đại khốn khó, khi thế giới cũ không còn mà thế giới mới chưa đến. Sự điên loạn của nhà thơ là kết quả của sự canh giữ cô đơn, của việc sáng tạo nên những sự thật mới mẻ, dù không mấy ai hay biết. Như thế, trong thời kỳ này, Heidegger đánh giá cao chất lượng tư tưởng trong thơ Hölderlin : thi sĩ thiết lập nên những nhu cầu thiết yếu và nghiêm trọng, với “ sứ mệnh ” khôi phục lại những gì đã suy tàn, gãy đổ của một thời vàng son quá khứ (như nền “ nghệ thuật lớn ” của “ hệ hình Hy Lạp ”) (xii).
Heidegger viết những lời mạnh mẽ : “ Công việc của chúng ta là mang lại quyền lực cho Hölderlin ”. Nói cách khác, ở đây, thi sĩ và triết gia không còn phân biệt về sứ mệnh ; họ chỉ khác nhau ở tính cách và phương tiện : một bên dùng lối ẩn dụ, ít nhiều tối tăm, một bên sử dụng khái niệm minh nhiên, sáng sủa. Hölderlin là quan trọng, nhưng chưa phải với tư cách là nghệ sĩ mà như là triết gia : “ đứng trên đỉnh núi cao của thời đại, thấu hiểu quá khứ và dự phóng tương lai ”. Ta dễ dàng liên tưởng đến thời kỳ đầu của Bùi Giáng Mưa Nguồn, của Bùi Giáng, Heidegger và tư tưởng hiện đại
“ Đời xiêu đổ nguồn xưa anh trở lại
Giữa hư vô em giữ nhé ngần này…
Sau một Nietzsche bơ vơ, “ mất quê hương ”, Heidegger muốn nhìn thấy nơi Hölderlin hình ảnh và lời kêu gọi của kẻ “ quy hồi cố quận ”, tìm lại được quê hương đã mất.

2. Thi sĩ – triết gia


Vào thời kỳ muộn, qua việc giảng giải các tụng ca Như trong ngày Lễ hộiHồi tưởng (Bùi Giáng : Lễ Hội Tháng Ba, NXB Văn hóa Sài Gòn 2008), Heidegger cho thấy một bước nhận thức sâu hơn về Hölderlin chung quanh bản chất và trách vụ của thi ca. Lần đầu tiên, Hölderlin đích thực xuất hiện “ trên cơ bản là nhà thơ ” (wesentlich als ein Dichter/essentially as a poet) vì Heidegger thừa nhận rằng ông đã được Hölderlin “ dạy dỗ ” về bản chất của thi ca theo ngôn ngữ của cái BỐN (Trời, Đất, Con người và Thần linh).
- Tụng ca Như trong ngày Lễ hội (1800) (xiii) là mới mẻ, phong phú khi mô tả sự nghèo nàn tinh thần của thời đại mà Hölderlin gọi là sự thiếu vắng lễ hội. Trong Hồi tưởng (xiv), ta lắng nghe những nhớ tưởng của thi sĩ về “ những giấc mộng vàng ” (Bùi Giáng : “ Giấc vàng long lanh ”) trong những “ lễ hội ” đã qua. Lễ hội là gì? Là ra khỏi nhịp điệu nhàm chán thường ngày. Là ra khỏi vòng kìm tỏa của sự “ hữu ích ”, “ hữu dụng ” để sống đích thực là chính mình. Trong thời đại của khoa học - kỹ thuật - công nghệ, con người bị “ đóng khung ” (Gestell), khiến cho sự “ ưu tư ” (Sorge/Care) khó trở thành sự ưu tư đích thực. Thời hiện đại không thể có “ lễ hội ”, vì ta không còn từ ngữ, không còn ngôn ngữ để làm việc ấy nữa (Bùi Giáng : “ Tôi bước qua từ ngữ rụng hai lần ”). Đó là cảm thức sâu sắc rằng bản chất cao nhất của thi ca, của người “ thi sĩ tương lai ” như nói trước đây không thể đạt tới được nữa :
Đạp thanh hội cũ hào hoa
Giấc vàng buổi Tảo Mộ đà cáo chung ”
Bùi Giáng
- Vậy phải làm gì khi “ hệ hình Hy Lạp ” của nền “ nghệ thuật lớn ” cổ đại là bất khả phục hồi, một đi không trở lại ? Trong Xây Ở Suy Tư (1951), Heidegger cho rằng : ta không thể làm cho thần linh quay trở lại, mà chỉ còn có thể “ chăm lo ” (schonen) và “ chờ đợi ” sự lai đáo ấy. Trong Thi sĩ là gì trong thời khốn khó ?, khi bình giảng về tụng ca Bánh và Rượu của Hölderlin, Heidegger thấy cần thiết phải tạo nên một “ bầu khí ” (Ether) thích hợp để đón đợi và làm chỗ cư lưu cho “ thần linh ”, bởi “ chỉ còn có thần linh mới có thể cứu vớt chúng ta ”. “ Thần linh ” ở đây không được hiểu như là sức mạnh siêu nhiên mà như là những kích thước mới cần được khám phá cho sự hiện hữu của con người. Sự đón đợi ấy là sự chuẩn bị ở trong tư thế lẫn sự chuyển hóa ở trong tâm thức. Heidegger viết : “ Là thi sĩ trong thời đại khốn khó có nghĩa là : đón đợi, hát ca, dõi theo sự vẫy gọi của thần linh. Đó là lý do tại sao người thi sĩ trong đêm trường tối tăm của thế giới [Bùi Giáng : “ thế dạ ”] lại tỏ bày sự linh thánh. Đó là lý do tại sao, trong ngôn ngữ của Hölderlin, đêm trường của thế giới lại là đêm thánh thiêng ” (xv). Ta biết rằng, thời hiện đại được gọi là “ đêm tối ”. Ở thời kỳ đầu, Heidegger đọc Hölderlin qua hình ảnh một đêm trường đầy tối tăm, bế tắc (Siêu hình học nhập môn, tr. 46). Bây giờ, đi sâu hơn, hình ảnh mới lại là hình ảnh của “ Tửu thần Dionysos ngao du ca hát trong đêm thánh ”. Trên con đường Quy hồi cố quận, bây giờ Hölderlin lại trải nghiệm đêm tối như cái gì “ thanh sạch ”, “ hân hoan ”, hay, nói như ngôn ngữ Bùi Giáng, trong “ hồn ca vũ địa ”.
Tóm lại, khi thử đặt Bùi Giáng vào trong mối quan hệ mật thiết với Heidegger và Hölderlin, qua đó soi sáng phần nào hành trạng, suy tư và sáng tác của ông, ta thấy Bùi Giáng là một trường hợp khá đặc biệt, hiếm có : không chỉ tiếp thu nguồn thi ca, tư tưởng vốn xa lạ theo nghĩa thâm cảm, tri kỷ mà còn tự dấn mình thực hiện trọn vẹn như một biểu trưng : “ Trút linh hồn dường như thể như thân ”. “ Biết ít, vui nhiều, ấy là tặng vật, cho người phù du ” (xvi). Bùi Giáng không muốn ai bắt chước mình. Nhưng có lẽ ông muốn mình được đọc, được hiểu như một dấu hiệu của sự TỰ DO trong “ thời khốn khó ”. Quả thật, Bùi Giáng, “ trên cơ bản, là một nhà thơ ”.
14.09.2013

Bùi Văn Nam Sơn


NGUỒN : DIENDAN FORUM



(ii) Martin Heidegger : Erläuterungen zu Hölderlins Dichtung / Elucidations of Hölderlin’s Poetry/Minh giải Thi ca Hölderlin, bản tiếng Anh của Keith Hoeller, New York, 2000, tr. 13 và trong The Heidegger Controversy: A Critical Reader, ed. R. Wolin, Cambridge, Mass, 1993: “Tư tưởng của tôi ở trong mối quan hệ quyết định với thi ca của Hölderlin” (tr. 112).
(iii) Martin Heidegger : Erläuterungen zu Hölderlins Dichtung, Gesamtausgabe, Band 4, Vittorio Klostermann, Frankfurt am Main, 1981.
(iv) Martin Heidegger : Der Ursprung des Kunstwerkes, Reclam 1960, 2008 (BVNS dịch và chú giải, sắp xuất bản).
(v) Bùi Giáng : Lễ Hội Tháng Ba, NXB Văn hóa Sài Gòn, tái bản 2008, tr. 7 và tiếp.
(vi) Martin Heidegger : Hölderlin und das Wesen der Dichtung / Hölderlin và bản chất của thi ca, Toàn tập, Tập 4, tr. 47.
(vii) F. Hölderlin : “Dichten: diss unschuldigste aller Geschäffte” (III, 77), Sđd. Tr. 31.
(viii) “Darum ist der Güter Gefährlichsten, die Sprache dem Menschen gegeben… damit er zeuge, was er sei…” (IV, 246), Sđd. Tr. 31.
(ix) F. Hölderlin : “Was bleibt aber, stiften die Dichter” (IV, 63), Sđd. tr. 31.
(x) Chuồn chuồn, Châu chấu, Rừng Marylin, Biển Bardot, Ngành Novak, Đóa John Keats, Miền Hà Thanh, Ngành Mật niệm, Đóa U linh, Hồng lĩnh Hạc lâm, Quỳnh Lai Thị Xứ, Nghìn thu Cổ lục, Ngày Hy Nga, Đêm Bé Chị, Hoa trên Ngàn, Sóng Hồng Hoang, Thềm dục vọng… (xem thêm: Mai Thảo, Một vài kỷ niệm với Bùi Giáng, trong nhiều tuyển tập)
(xi) “Voll Verdienst, doch dichterisch wohnet Der Mensch auf dieser Erde” (VI, 25) Sđd. tr. 31.
(xii) Bùi Giáng : Hư vô và Vĩnh viễn (Mưa Nguồn): “Hồn hoa cỏ Phượng Thành Hy Lạp úa”.
(xiii) F. Hölderlin : “Wie wenn am Feiertage…”, trong M. Heidegger: Erläuterungen zu Hölderlins Dichtung/Giảng giải Thơ Hölderlin, Toàn tập, Tập 4, tr. 49 và tiếp.
(xiv) F. Hölderlin : “Andenken”, nt, tr. 79 và tiếp.
(xv) Thi sĩ để làm gì ?/ Wozu Dichter ? / What are poets for ? Bản tiếng Anh trong Poetry, Language, Thought, London 1975, tr. 94.
(xvi) F. Hölderlin : “Zu wissen wenig, aber der Freude viel, Ist Sterblichen gegeben…” (IV, 240)/To know little, but of joy much Is given to mortals. Heidegger dùng làm đề từ cho phần bình giảng về Tụng ca “Quy Hồi Cố quận/Gửi người thân thuộc” (Heimkunft/An die Verwandten) của Hölderlin. Sđd. tr. 13, Bùi Giáng : Lời Cố Quận, An Tiêm 1971, tr. 30.

17 thg 6, 2013

Ai Đã Thực Sự Tìm Ra Chữ Quốc Ngữ

Đỗ Xuân Đạm 






Đã đóng lại bài viết về hai cụ Hàn Thuyên và Alexandre De Rhodes mà trong lòng cứ mãi lấn cấn vì vẫn chưa làm rõ được chữ Quốc ngữ ra đời ở đâu, năm nào và còn những ai thực sự đã có công với chữ Quốc ngữ?

Điều đó làm tôi tịt mạch mấy tháng nay không viết thêm được bài nào nữa.
Để thoát khỏi tình trạng bế tắc đó, đành bỏ thời gian lục tìm tứ tung để thoả mãn cái tật gàn dở của mình.
Và đây là điều tôi tìm ra,

Chữ Quốc ngữ ra đời năm 1622 trong thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, do công của người giáo sĩ Bồ Đào Nha Francisco De Pina (1585-1625), tại xứ Đàng Trong của chúa Nguyễn.
Francisci De Pina là giáo sĩ tiên phong đến Đàng Trong năm 1617, nhờ thông thạo tiếng Nhật và chữ Hán, ông dễ dàng học nói tiếng Việt, học đọc chữ Nôm, nhưng thấy các giáo sĩ khác gặp khó khăn trong việc học chữ Nôm nên đã dựa vào bảng mẫu tự La Tinh, ông Nguyễn Đình Đảng thời cho rằng là dựa vào từ mẫu tự Rô-Măng, tôi thiển nghĩ mẫu tự Roman cũng từ nguồn gốc Latin mà ra, để ghi âm tiếng bản xứ.
Năm 1624, sau khi đã xếp đặt thành hệ thống, có cả phần tóm lược về văn phạm, ông mở lớp dạy tiếng Việt cho các giáo sĩ muốn đến truyền giáo tại Việt nam, ông cũng tự viết bài giảng bằng thứ chữ này để trực tiếp truyền đạo, nhưng không may, tháng 12 năm 1625 ông bị chết đuối ở cảng Đà nẵng.
Sau cái chết của Pina những giáo sĩ đã học tiếng Việt với Pina tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống chữ viết nầy là giáo sĩ Gaspar De Amaral (1549-1646) – tác giả tự điển Việt-Bồ, giáo sĩ Antonio Barbosa (1594-1647) – tác giả tự điển Bồ-Việt, giáo sĩ Alexandre De Rhodes (1591-1660) – tác giả tự điển Việt-Bồ-La tinh.
Trong đó chỉ có một mình A.D.Rhodes là người Pháp (ông sinh ở vùng Avignon)
Đúng như TS. Nguyễn Tường Bách đã nhận định:
“Mục đích ban đầu của chữ quốc ngữ là để cho các nhà truyền giáo nói được tiếng Việt và giao tiếp với cộng đồng tôn giáo của mình bằng chữ viết. Về sau, khi các nhà cai trị người Pháp đến Việt Nam, họ cũng không kham nổi chữ Hán lẫn chữ Nôm. Giải pháp thuận tiện của người Pháp là buộc mọi người Việt Nam phải sử dụng chữ quốc ngữ và có lẽ đó cũng là lý do tại sao vai trò của Alexandre de Rhodes được nêu bật.
Vì là sản phẩm của bọn Tây di, nên chữ quốc ngữ bị giới sĩ phu tẩy chay.
Chữ nôm còn bị chê là nôm na mách qué, thời cái thứ chữ do bon Bạch quỉ chế ra này các cụ có mà thèm để mắt!
Sau đó nó còn là công cụ của thực dân Pháp trong việc cai trị.
Lại vì nó mà cả một nền Nho học với bao công lao dùi mài kinh sử trở thành vô dụng nên thứ chữ này càng bị khinh ghét.
Nhưng sự tiện dụng và sức sống mãnh liệt của chữ quốc ngữ càng ngày càng lộ rõ, càng thắng thế.
Năm 1915 vua Duy Tân bãi bỏ chế độ thi cử cũ ở Bắc kỳ.
Năm 1918 vua Khải Định bãi bỏ thi cử cũ ở Trung kỳ.
Năm 1919 vua Khải Định chính thức đóng cửa các trường dạy chữ Nho.
Ngày 18-9-1924 Merlin, Toàn quyền Đông dương ký nghị định đưa chữ quốc ngữ vào dạy trong 3 năm đầu bậc Tiểu học.
Nền Nho học cáo chung, chữ Quốc ngữ lên ngôi.
Nào có gì lạ cái chữ nho 
Ông nghè, ông cống cũng nằm co 
Sao bằng đi học làm ông Phán. 
Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò 
(Chữ Nho) – Tú Xương
Người Bồ Đào Nha khai sinh ra chữ Quốc ngữ, người Pháp ép dân ta dùng chữ Quốc ngữ.
Nhưng truyền bá và trau chuốt cho chữ Quốc ngữ được như ngay hôm nay công lớn nhất phải thuộc về những người tiên phong tiêu biểu như: Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh… cùng với họ một đội ngũ tân học ngày càng đông, nhiều tài năng, đầy nhiệt huyết và dũng cảm.
Những người con ưu tú đó đã được nhớ ơn, được tôn vinh bằng những tên đường trong đô thị.
Vậy mà trong những người đi đầu ấy, có một người hình như bị bỏ quên.
Một người có tư cách sáng chói, có trí thông minh và chí tự học siêu việt, từ thân phận một thằng nhỏ 8 tuổi chưa biết chữ kéo quạt tại trường Thông ngôn Yên phụ-Hà nội, năm 14 tuổi đã đỗ thủ khoa lớp thông ngôn của chính trường này, là người Việt đầu tiên được gia nhập Hội Nhân quyền Pháp, người đầu tiên xuất bản tờ báo bằng chữ quốc ngữ ờ Hà nội, tờ Đại nam Đăng cổ tùng báo, người đầu tiên dịch các tác phẩm văn học Pháp sang tiếng Việt, người đầu tiên dịch truyện Kiều sang tiếng Pháp, người đứng đơn xin mở trường Đông kinh nghĩa thục (Cụ Lương Văn Can làm hiệu trưởng), người chống quân chủ lập hiến kiểu bù nhìn đòi thành lập nền Cộng hoà, người mà trong lời tựa bản dịch Tam quốc chí đã viết “Nước Nam ta mai sau này hay, dở cũng là ở chữ quốc ngữ”, người 2 lần từ chối Bắc đẩu bội tinh của chính phủ Pháp, người mà lúc chết trên thuyền độc mộc ở sông Sê-băng-hiêng, Sê-pôn – Lào, hai tay vẫn cầm cây bút và quyển sổ với phóng sự đang viết dở dang “Một tháng với những người tìm vàng”.
Người tự cho mình là người man di hiện đại.
Một người mà người Pháp đánh giá là thiếu tính tự ti của dân nhược tiểu.
Người đó là Tân Nam Tử Nguyễn Văn Vĩnh.
Một người xuất chúng và có công lớn với nền văn hoá hiện đại của nước nhà như thế mà mãi tới năm 1999 tên người mới được đặt cho một con đường ở phường 4 quận Tân Bình.
Còn tại Hà nội quê ông thời vẫn chưa có con đường nào mang tên ông…
Sài gòn 12-5-2013
ĐXĐ
Nguồn:  http://trelangkienviet.com/2013/06/16/ai-tim-ra-chu-quoc-ngu/ 

14 thg 6, 2013

Phân Tâm Học Trong Tiểu Thuyết Đô Thị Miền Nam: Trường Hợp THANH TÂM TUYỀN


Lời dẫn của dịch giả Cao Việt Dũng:
Đã đến lúc, văn học miền Nam cần được thực sự nhìn nhận và đánh giá. Năm 2013 này sẽ là năm của nghiên cứu văn học miền Nam.
Cùng vài đồng nghiệp, chúng tôi đi vào một số vấn đề của văn học miền Nam, những vấn đề văn học sử, hoặc sẽ là tiểu luận chi tiết như bài dưới đây về văn xuôi Thanh Tâm Tuyền của nhà nghiên cứu Đoàn Ánh Dương (bản thảo ban đầu xem ở đây), hoặc những sưu tập và chỉ dẫn về tư liệu. Rất mong được giúp đỡ thêm từ phía các nhà sưu tầm và nhất là những người từng có trải nghiệm trực tiếp với văn học miền Nam 1946-1975.
Trang phebinhvanhoc.com.vn do nhà nghiên cứu Trần Thiện Khanh chủ trương cũng sẽ hỗ trợ thêm. Hiện nay trang “Phê bình văn học” cũng đã đăng tải một khối lượng tư liệu lớn.
Các nghiên cứu sẽ dựa trên tư liệu thực tế, sục vào các kho tư liệu công hoặc tư, sử dụng các công trình từng có của các nhà nghiên cứu đi trước với tinh thần cầu thị nhưng không dễ dãi chấp nhận mọi thứ.
Mở đầu bằng Thanh Tâm Tuyền và Sáng tạo hẳn là một khởi đầu hợp lý, nhấn mạnh vào tầm quan trọng của một nhóm văn chương từng có tầm quan trọng và tầm ảnh hưởng lớn trong văn học miền Nam trước 1975; cùng vệt này có thể tìm được một số tư liệu có sẵn trên blog http://nhilinhblog.blogspot.com, đặt ở các label thanh-tam-tuyen, mai-thao, sang-tao.
*
Phân tâm học trong tiểu thuyết đô thị miền Nam: Trường hợp Thanh Tâm Tuyền

Nguyễn Thị Bình – Đoàn Ánh Dương

Phân tâm học được biết đến ở Việt Nam khá sớm, ngay từ văn học tiền chiến, ở cả trong sáng tạo và diễn giải văn học(1). Tuy nhiên, thời kì đất nước bị phân đôi, phân tâm học được nhìn nhận cơ bản không giống nhau ở hai miền Nam, Bắc.

6 thg 12, 2012

Nỗi Nhớ Riêng Anh


Anh và em chưa một lần gặp gỡ
Thế mà ông trời đeo nỗi nhớ riêng anh
Đêm nay trước đại dương xa thẳm
Những đợt sóng xô từ biển em, nghe rất hiền lành

Có phải em là thiên sứ của tình yêu
Xin cho anh một chút để ru tình anh vạn kỷ
Có phải em là loài hoa diên vỹ
Tím ngát trong anh, tím cả trời chiều!


7 thg 1, 2012

Các Bài SONNET
Của WILLIAM SHAKESPEARE



Trang tựa từ ấn bản năm 1609 của "Shake-Speares Sonnets"

Các bài Sonnet của Shakespeare, hay đơn giản là các bài Sonnet, là một bộ các bài thơ được viết dưới dạng sonnet (bài thơ có 14 câu có vần với nhau theo một kiểu cách xác định nào đó) bởi William Shakespeare về những đề tài như tình yêu, cái đẹp, chính trị, và cái chết. Có lẽ chúng đã được sáng tác trong một khoảng thời gian là vài năm. Tất cả 154 bài thơ đã xuất hiện trong một tuyển tập năm 1609, gồm 152 bài sonnet chưa từng được xuất bản trước đó và hai bài thơ, số 138 ("When my love swears that she is made of truth") và 144 (Two loves have I, of comfort and despair), đã được xuất bản trong một hợp tuyển năm 1599 có tựa đề The Passonate Pilgrim.

11 thg 12, 2011

Nhà Văn Viết Những Điều Họ Có Thể Viết

Nhà văn Italo Calvino

LÂM VŨ THAO dịch
 Italo Calvino (1923 – 1985), nhà văn Ý, là một trong những tác giả quan trọng nhất của văn học thế giới thế kỷ 20. Ông là tác giả nhiều tiểu thuyết và tiểu luận phê bình. Các tác phẩm của ông đã được dịch ở Việt Nam gồm Ngài Palomar, Nam tước trên cây, Nếu một đêm đông có người lữ khách, và Tử tước chẻ đôi. Dưới đây là bản trích dịch bài phỏng vấn Italo Calvino do tạp chí The Paris Review thực hiện năm 1983.

17 thg 11, 2011

DAN BROWN - Thiên Tài Văn Chương
Hay Bậc Thầy Lừa Đảo

Thụy Thụy

Bạn nghĩ gì về cha đẻ của 'Mật mã Da Vinci' - một trong những tiểu thuyết gia gây nhiều tranh cãi nhất trên thế giới?



12 thg 11, 2011

Nhật Ký Của " Vua Săn Gái "

Thụy Thụy

Có lẽ không cần chứng minh sự nổi tiếng của Casanova - tiểu thuyết gia kiêm nhà thám hiểm nổi tiếng nhất thế kỉ 18 nhờ nghệ thuật quyến rũ và chinh phục phái đẹp.

21 thg 10, 2011

Thi Ca Và Văn Xuôi - Thi Học Và Mỹ Từ Học


M.L.Gasparov
chuyển ngữ : Trần Thị Phương Phương


Đối với mọi nền văn hóa trong đó hình thành nghệ thuật ngôn từ và tiếp sau đó là sự hiểu biết về lý luận, cái khởi đầu là sự đối lập giữa thơ và văn xuôi. Ngay từ buổi đầu xã hội loài người được hình thành, đã có một số các bài văn có ý nghĩa cao cả, nghĩa là có khả năng giúp cho xã hội đó được thống nhất đoàn kết hơn những lời nói bình thưỡng khác.

15 thg 10, 2011

JANE AUSTEN - Nhà Văn Dường Như Bất Tử

Thanh Huyền


Có một sự thật được thừa nhận rộng rãi rằng, dù năm tháng đã đi qua, tiểu thuyết của Jane Austen vẫn chiếm lĩnh văn đàn thế giới bằng sức sống đáng ngạc nhiên. Những tác phẩm như Sense and Sensibility (Lý trí và Tình cảm), Pride and Prejudice (Kiêu hãnh và Định kiến), Mansfield Park (Vườn Mansfield) và Emma đều đã sắp kỷ niệm 200 năm ngày ra đời. Nhưng chúng vẫn là những cuốn sách được yêu thích nhất, có ảnh hưởng nhất trong nền văn học Anh.

VERA PAVLOVA - Nữ Sĩ Nga

Năm bài thơ
Bản dịch Hoàng Ngọc Biên
VERA PAVLOVA 
(1963~)
Vera Pavlova sinh năm 1963 ở Moscow.

9 thg 10, 2011

Cái Chết Của Chủ Nghĩa Hậu Hiện Đại Và Xa hơn

Alan Kirby
Chân Phương trích dịch và chú thích

Trước mặt tôi là bài mô tả một đơn vị học trình (module) chuyển tải từ website của khoa Anh văn thuộc một viện đại học Anh, trong đó gồm các chi tiết về bài vở phải nộp và danh sách tài liệu cần đọc mỗi tuần cho sinh viên chọn giảng khóa ‘ Postmodern Fictions’ (Các thể văn hư cấu hậu hiện đại).

1 thg 10, 2011

Các Thế Giới Chữ Viết: Những Hệ Thống Viết Và Việc Hình Thành Văn Chương Thế Giới

David Damrosch

chuyển ngữ : Cao Việt Dũng




Trong gần như toàn bộ lịch sử được ghi lại, văn học không được viết ra bên trong một hệ thống toàn cầu thuần nhất. “Văn chương thế giới” từng mang rất nhiều nghĩa ở các phần khác nhau của quả địa cầu, và chỉ rất ít nhà văn thực sự có được độc giả trên toàn thế giới.

22 thg 8, 2011

William Blake - Nhà thơ Anh



William Blake
Bức họa William Blake vẽ bởi Thomas Phillips.
Công việc Nhà thơ, Họa sỹ

Chủ đề Văn học
William Blake (28 tháng 11 năm 1757 – 12 tháng 8 năm 1827) – là nhà thơ, hoạ sĩ Anh, một trong những nhà thơ lớn của thế kỷ XVIII. Thơ ca của William Blake là một hiện tượng, chuyển từ thơ ca thế kỉ Ánh sáng sang thơ ca lãng mạn của Keats, Shelley. Năm 1957 Hội đồng Hòa bình Thế giới kỷ niệm 200 năm ngày sinh của ông. Năm 2002 đài BBC bầu chọn 100 người Anh vĩ đại nhất mọi thời đại, William Blake được bầu ở vị trí 38

5 thg 8, 2011

Cuộc Đời Của Nhà Văn GABRIEL GARCIA-MARQUEZ

Gerald Martin 

 chuyển ngữ : Đào Trung Đạo

Trong số những nhà văn được trao giải văn chương Nobel trong ba thập niên cuối thế kỷ 20 có lẽ Gabriel Garcia-Marquez được giới truyền thông nhắc đến nhiều nhất

4 thg 8, 2011

Một Con Sói Khoác Bộ Lông Cừu

Jürgen Kremb


chuyển ngữ : Phạm Toàn 
 
Người dân khắp Trung Hoa đang cố tìm xem ai chính là cái ông tác giả bí ẩn của cuốn sách được bàn cãi nhiều nhất và bán chạy nhiều triệu bản Tôtem Sói. Tác giả cuốn sách nặng kí ấy là một người chống đối nổi tiếng, viết văn với bút danh Khương Nhung. Nếu ông dùng tên thật, sách của ông chẳng khi nào ra mắt công chúng được

2 thg 8, 2011

" Chúng Tôi Như Những Con Cá Sấu Khổng Lồ Dưới Sông"

Horace Engdahl 

chuyển ngữ :Hồ Phạm Huy Đôn 



Phỏng vấn của tuần báo Đức Die Zeit, Susanne Meyer thực hiện với
Horace Engdahl, thư kí thường trực của Viện Hàn lâm Thụy Điển, tỏ ra rất bình thản trước những chỉ trích quanh việc trao giải Nobel cho Harold Pinter.