Con người sinh ra tự do nhưng ở đâu cũng có xiềng xích. J.J. ROUSSEAU.

12 thg 9, 2015

Ruồi


Truyện ngắn KG

Hôm qua lũ ruồi của làng Đa Đa hớn hở nói với ta rằng, chưa có thời kỳ nào ở cái xứ sở xinh đẹp, màu mỡ và đầy đau thương này, bọn chúng sinh sản phát triển nòi giống nhanh như cái thời cận hiện đại này.
Theo nhà cổ sinh vật học người Pháp Pierre Teihard De Chardin, thì giống ruồi của chúng, trên Cây- Sự -Sống, phải cách xa loài người hàng tỉ năm tiến hóa, nhưng giống ruồi ở làng Đa Đa đã phát triển đột biến, loài ruồi này đã từng cho ấu trùng trong di cốt của nàng công chúa Ý Isabella thời phục hưng, nguyên mẫu nàng Mona Lisa của danh họa Leonardo Da Vinci.

Chúng rất tự hào rằng nhiều hoạt động não của chúng, loài động vật chân đốt, không khác gì với loài động vật xương sống, thậm chí so với não người. Bọn chúng còn nói nhiều tác phẩm văn học đã nhắc đến chúng, như nhà triết học Jean Paul Sartre, nhà văn Anh Ethel Lilian Voynich, và chúng được phong “Chúa” phi nhân như William Golding.
Nghe chúng nói mà tôi tối mặt tối mày, hoang mang, không biết đâu là sự thật, người biến thành ruồi hay ruồi biến thành người, trong cái làng đầy rối rắm và khốn khổ của tôi, các loài vật trên trái đất này tranh nhau tiến hóa.

Nhưng tôi cũng phải công nhận với lũ ruồi, rằng không có loài sinh vật nào gần gũi con người bằng bọn chúng. Nơi nào có hoạt động của con người, là có chúng. Ban ngày chúng cũng đi kiếm ăn, ban đêm khi con người an giấc thì bọn chúng cũng biết trốn vào những nơi tối tăm để dừng hoạt động của đôi cánh và cái mũi đầy sinh động và linh hoạt.

Chúng từng ăn chung , uống chung với con người, chỗ nào có mặt của con người là có chúng, chúng ở chung với cả người sống lẫn người chết, đặc biệt chúng tranh ăn rất quyết liệt với những mảnh đời cùng khổ trên các bãi rác đời, chúng bu lên mặt của những trẻ thơ cùng cực, chúng sống hoan hỷ trên những xác thân mục rữa, ruồi của làng Đa Đa thậm chí còn sống trên xác của đồng loại vừa nằm xuống cho chúng. Chúng cho rằng đó là quyền của kẻ mạnh do tạo hóa ban cho, khi chúng vượt qua được cái chết bên cạnh bạn của chúng phải nằm xuống.

Khi loài ruồi mang não trạng con người, gọi là Ruồi- Người thì chúng đã làm bao nhiêu điều mà cả con người cũng không làm được. Chúng kể công rằng, mùa thu năm 1427, nhờ chúng bu dày đặt trên mắt mũi Liễu Thăng, làm cho tên giặc Tàu tối tăm mặt mày, giúp cho Lê Sát và Lê Nhân Chú chém bay đầu tên xâm lược trên núi Mã Kỳ nơi ải Chi Lăng lịch sử. Cũng như, chúng hân hoan tiết lộ một “bí mật”, trong cuộc đối đầu lịch sử giữa hai mươi vạn quân xâm lược Mãn Thanh và nghĩa quân Tây Sơn mùa xuân năm Kỷ Dậu, chính lũ ruồi làm cho quân xâm lược mất ăn mất ngủ và cuối cùng, Tôn Sĩ Nghị sợ giống ruồi mà phải chui vào ống đồng trốn về Tàu!

Chúng còn hiêu hiêu tự đắc mà nói rằng chúng không hề sợ một tên độc tài khát máu nào, không ai dám thở khi ở bên cạnh bọn này, nhưng chúng thì tha hồ nhởn nhơ bay lượn, đã từng xả thải vào thức ăn của Hitler, Stalin, Mao Trạch Đông, Sadam Hussen, Kim Jong Un…, và khi bọn này chết, chỉ có lũ ruồi mới có thể chui được vào quan tài mà phóng uế hay truyền giống lên những cái xác đầy kinh tởm ấy mà thôi. Kể ra thì không ai làm được và có thể lập được những công trạng vĩ đại như bọn Ruồi – Người này.

Nhưng nếu Đấng Sinh Diệt ủng hộ cho một cuộc đột biến phi nhân, biến ruồi thành người, gọi là Người- Ruồi, những con người, nhưng có gen và não trạng của ruồi, dù đó là ruồi- lính- đen Hermetia Illucents mà các nhà khoa học ở trường Đại học Imperial College of London phát hiện, thì quả cũng là một tai họa cho loài người.

Loại Người- Ruồi xuôi theo bản năng trần trụi phi nhân và ăn bẩn, chúng không từ bỏ thứ gì mà không ăn, không từ chỗ nào mà không ăn, bất kể đêm hay ngày, mùa hạ nắng cháy hay mùa đông rét mướt giá băng. Chúng ăn trên những Đền Thiêng Miếu Cổ cha ông, chúng ăn trên những cánh rừng không bình yên, những cánh đồng cháy nắng, những dòng sông cạn kiệt, những biển cả thét gào, những ốc đảo xa xôi cô độc, những làng quê xơ xác, những con phố tủi hờn. Chúng ăn trên thân xác của những cụ già tay run tai điếc, những mầm non khô héo tuổi thơ, những bơ vơ của thiếu phụ vừa mất chồng nơi chiến địa, những thân xác mục rữa không áo quan, trên những lang thang của ma trơi đồng loại, trên hiện tại mỏi mòn,chúng ăn trên tương lai không còn sinh khí. Chúng bu ăn tất cả những thứ tồn tại trên cái làng khốn khó này.

Ông trưởng làng thì nói rằng trên trái đất này, không chỗ nào là không có ruồi, đâu phải chỉ có làng Đa Đa, nhưng nhà Viết Sử Trên Đá lại nói rằng không thời nào làng Đa Đa lại nhiều ruồi như bây giờ, và ông trưởng làng cũng là loài ruồi biến đổi gen.Sự thật ở chỗ nào, dân làng Đa Đa chỉ còn biết nhìn lên tảng đá cao nhất của ngọn núi linh thiêng của làng là Núi Bà để chờ đợi câu trả lời.
SG 23-11-2014

10 thg 9, 2015

Những Dấu Chân Trên Sóng


           
[
I]   Chỉ Là Một Ngẫu Nhiên Vô Thỉ Vô Chung

5, Có Phải Em Là Tất Mệnh Nhị Nguyên

phải chăng bàn tay tất mệnh
đã sờ vào hòn đá cuội dưới đáy của dòng suối uyên nguyên
chảy vào tim em,
chảy qua trần gian,
tội tổ tông lại vướng vào loài nơ-ron xám
vì Chúa lại đem trái cấm
treo nơi vườn Địa Đàng
em đưa tay mở cho dòng suối thời gian cuộn chảy
lên một mảnh hình hài từ thuở sơ nguyên,

sao nàng lại tìm lá để che thân
thể xác em là tuyệt phẩm của thế gian,
lung linh muôn ngàn phép lạ,
giữa trời đêm,
duy nhất vầng trăng khai mở
khối óc con tim bùng vỡ
ai ngờ giây phút ấy, nhị nguyên

Không đâu,
trong dòng chảy của uyên nguyên
từng hạt lửa của Big Bang,
đã có sự phân chia hạt và sóng,
đó là mầm sống của nhị nguyên
ai biết được đó là như nhiên hay là ý đồ của Chúa,

Rồi đến ngày Socrate xé đôi mảnh lụa
“ khai sinh một bi kịch”*
của Hy Lạp khai nguyên và duy lý
thương cho buổi bình minh của huyền thoại và thi ca
chết trong đầu của Aristote
hai mươi mấy thế kỷ
kẻ thắp lửa cho tư tưởng Tây Phương
giết chết Homère và Hésiode
cùng lịch sử các thần minh
đẩy nhị nguyên đến bến bờ sinh tử
từ phusis thiên nhiên triển nở nguyên sơ
đến phusis vật lý hững hờ xơ cứng
từ Địa đàng đến trần gian
là những bước chân của loài nơ-ron xám
thế gian ảm đạm,
người đã quên nguồn cội
đã quên dòng sông thi ca và thần thoại
đau thương còn chảy mãi đến vô cùng…

* Lời của triết gia F. Nietzsche

Ôm Chặt Huyền Không


thơ Kiều Giang


mơ hoang
rụng xuống giang đầu.
thây trôi về tận
mắt môi cội tình,
vặn chi
những phiến âm buồn,
rơi vào
nguyệt lạnh tần ngần dáng sương,


Đành thôi
lấm bánh bụi hường,
đành thôi
giấu nửa cánh hồng vào đêm,
kinh cầu mấy độ, thưa em,
ngày xưa còn vọng
cuối thềm nguyệt hoa,

Bây giờ
khép mở canh tà,
huyền không ôm chặt
cũng là huyền không

Anh Vẫn Đưa Em Về Tận Cuối Chân Trời

Thơ Kiều Giang


Những cánh gió đầu thu
thổi qua bầu trời rực rỡ cúc vàng

chất đầy nỗi sầu thiên cổ. 

Em là ẩn số muôn niên
khóa chặt hồn anh giữa bến bờ hoang thức

còn chút âm thanh vọng từ cõi nguyên sơ,
em đã cho anh để chuẩn bị cuộc trở về. 
 
Anh sẽ thoát khỏi bến mê của những nụ cúc vàng
rắc qua trần gian mơ màng lận đận
xin bàn tay em có cởi cho anh thân phận làm người, 
 
Trái tim em chất đầy những cành hoa tươi,
buổi sáng em ban phát cho vầng trăng đêm qua  sót lại ở cuối chân trời,
để rồi hoàng hôn em lấy đi,
chỉ còn những chùm hoa dại khép cánh ở ven đường.
 
Em dịu dàng ban phát văn chương
cho cõi vô thường hư ảo,
đứng nhìn  cơn bão thổi qua hồn ai,  

mùi Oải Hương rực nức sớm mai,
em đã đem chôn vào mây hoàng hôn lãng đãng.
 
Thôi em,dẫu trăng vơi biển cạn
anh vẫn đưa em về tận cuối chân trời.
  

9 thg 9, 2015

Thần Rừng và Những Bụi Gai


       thơ Kiều Giang

Thần rừng nói với ta
rằng lão chẳng thích những rối rắm của những sinh linh mà lão cai quản

Lão không thích những dòng thác cứ  gào thét đêm đêm sau những cơn mưa xối xả suốt mùa đông, nhưng tay lão chẳng thể che nổi bầu trời,
lão chẳng thích dòng nước kia lại đổ ra khơi vì lão cũng chẳng ưa gì mùa khô cạn, những ngày nắng hạn và lão chẳng có thể làm mưa.

Lão chẳng thích những bóng cây cao và những bụi gai rậm rạp vì chúng đã chắn những lối đi, nhưng lão không thể chặt hết một rừng cây từng ngày vươn sức sống.

Lão muốn điều khiển bầy thú rừng đi rông, không tuân theo trật tự của lão, nhưng lão lại không thể thay thượng đế kiến tạo muôn loài.

Từng đêm lão mệt nhoài trong giấc ngủ vì tiếng vượn hú và loài chó sói tru đêm, nhưng lão lại không thể bắt loài chim hót, loài sơn ca lại cứ hót trong bình minh.

Lão không thích loài hoa nở đêm vì hương thơm lại phí hoài khi lão đã triền miên trong giấc ngủ, nhưng lão không thể ngăn loài hoa chỉ hé nụ giữa trời xanh.
Lão nổi điên về những bước đi của tồn tại, mãi mãi tự do.


5 thg 9, 2015

Người Đi Tìm Bóng

   
         Truyện ngắn Kiều Giang


một đêm mồng hai Tết, hắn thấy một con ngựa ô, không biết từ đâu
xông vào nhà hắn, hất tung cái kính cổ treo trên tường, lồng khung gỗ mun bóng loáng, được tổ tiên hắn truyền lại từ nhiều đời, cái kính vụn vỡ, hắn lặng câm chết điếng, mấy ngày liền bỏ ăn, bỏ làm, mặt thất thần ngây ngây dại dại, quanh quẩn mãi trong nhà, không nói với ai một lời,
bầu trời như tối sầm, những vầng mây đen hoang dại như cứa lên thân phận hắn, mặt đất run cầm cập, không hiểu sao, hắn lại lẩm bẩm “ thế là hết”, và con ngựa hoang cũng đã mất dạng vào bóng đêm, ma quái huyễn hoặc,


người ta lại thấy hắn mặt cúi gầm, nhặt từng mãnh vỡ, không sót một mảnh nào, cho vào một chiếc túi vải, đem cất trong buồng riêng, khóa chặt cửa, có người cười, bảo là hắn điên, cất làm gì, sao không đổ phứt đi, rồi mua cái kiếng khác, hắn im lặng, lạnh lùng, chỉ đưa mắt xa xôi,

một ngày, bất ngờ, người ta thấy hắn trải một tấm khăn lụa trắng, mới tinh, mà hình như hắn đã cất giữ từ lâu lắm, lên chiếc bàn của bộ trường kỷ chạm xà cừ lấp lánh, cha hắn truyền lại cho hắn, hắn dán từng miếng kính vỡ lên chiếc khăn lụa rồi ngồi thừ người ra, không biết hắn thấy gì trong những miếng kính vừa ráp lại, chênh vênh, nhăn nhúm, lỗ chỗ những khoảng trống, có lẽ, may ra còn thấy được cái bóng chập chờn của hắn, vì tấm kính trước khi vỡ, cũng đã úa mờ,

đêm hôm sau , hắn không ngủ, vào phòng riêng, đóng chặt cửa, treo tấm lụa lên tường, tĩnh tọa trước ngọn nến trắng, đăm đăm soi bóng mình trước chiếc kính mà hắn vừa chắp vá, ráp lại, hắn giật mình thấy hàng ngàn chiếc bóng của hắn hiện lên những mảnh kính vỡ, nhưng tất cả đều lộn ngược, tất cả không còn theo một trật tự nào cả, râu tóc hắn bỗng chốc trắng như mây, đang bị thổi tung trong bầu trời đầy giông bão,  nỗi buồn ẩn sâu vào đôi mắt, ánh lên niềm khát vọng xa xôi, bí ẩn một huyền ngôn, mà chính hắn cũng vô cùng kinh ngạc, có điều lạ hơn là chi chít những con chữ bám đầy lên người hắn, không tạo thành một câu chữ nào mà hắn có thể hiểu được, một thứ mật ngôn đang bám theo hắn, hắn bất lực, không thể giải mã, hắn thật sự không hiểu, cái xác thân hắn đang ngồi đây và cái bóng trong từng mảnh gương kia, cái nào là có thật, hay cả hai đều thật, hay cả hai đều ảo, tâm hồn hắn trở nên bấn loạn,
nếu như hắn không có đôi mắt, con ngựa ô không làm vỡ chiếc gương soi của hắn, và hắn không ráp lại chiếc kính vỡ thì có lẽ hắn không phải đứng trước nỗi  kinh hoàng này,

bây giờ hắn lại cười, nhưng nụ cười chưa kịp mở, lại cũng tắt ngay trên môi, chiếc gương vỡ lại hiện lên cảnh mẹ hắn bế hắn đứng trước gương, lúc hắn sáu tháng tuổi, nhưng tất cả cũng trái ngược, hắn chỉ thấy hình một bà già bế một đứa con nít râu tóc cũng bạc phơ, đứa trẻ nhoẻn miệng cười, háo hức chồm người vào trong gương, như muốn thoát khỏi tay mẹ…, hắn ngậm ngùi như muốn níu lại thời gian, mà hắn biết rõ là hắn bất lực, hắn nhắm mắt,

khi hắn mở mắt ra, một cảnh tượng kỳ bí lại diễn ra trước mắt hắn, bất giác hắn òa khóc, khóc ngon lành như trẻ con, khóc như chưa bao giờ được khóc, thèm khát khóc, nước mắt hắn như từ suối nguồn vô tận, thê thảm, chua chát, cứ tưởng rằng đó là cảnh đưa tang mẹ hắn, vì quá thương mẹ nên hắn đã ứa máu con tim, nhưng không, đó là một ngày vui nhất đời hắn, một đám cưới,

lạ thật, nếu như đám cưới ngày xưa của hắn tưng bừng rộn rã sang trọng bao nhiêu thì cảnh hôm nay trong gương, lại hiu hắt, tiêu điều, cùng cố bấy nhiêu,

hôm ấy là một buổi sáng cuối đông, đầu xuân, trên nền trời trong xanh, những cánh én đã làm cái bổn phận mà đất trời đã giao cho chúng, chiếc xe hoa lướt nhẹ trên đường rộn rã tiếng chim, chú rể dìu cô dâu trong tiếng pháo giòn tan cùng tiếng vỗ tay chào mừng của hai họ và bạn bè,
cả không gian và thời gian như hoàn toàn thuộc về hai người, đêm ấy họ leo lên thiên đàng tình ái không cần mượn thang của chúa trời,
nhưng sao hôm nay lại là một ngày mưa dầm, quan cảnh thê lương tiêu điều, chiếc xe hoa lội nước trên đường, những cành hoa gắn trên xe sũng ướt, rũ rượi tả tơi, bầu trời mây đen vần vũ, hình ảnh đôi uyên ương chập chờn mờ nhạt, nhăn nhở, nức nẻ,
hắn lại thấy bão tố nổi lên nơi hang động yêu đương, đèn hoa ngậm ngùi sương gió, hắn bắt đầu một đoạn đường đời tàn lụi ái ân, nhìn vào tấm gương vỡ, hắn lại khóc, hắn lẩm bẩm trong đầu “không, không phải, nhất định không phải đám cưới của ta”,

những mảnh gương vỡ lại tiếp tục hiện về những hình ảnh ngược, người ta cắm đầu xuống đất để chém giết nhau, nhưng máu lại cứ chảy lên trời, bầu trời nhuộm một màu đỏ thẫm, máu và lửa lại phủ lên đời hắn, nhưng thật kỳ lạ, máu và lửa lại không nhuộm đỏ cũng không đốt cháy được những con chữ cứ bám chặt theo hắn, hòa vào máu của hắn, lại một lần nữa, hắn cảm thấy bất lực trước số phận,

hắn thấy mình cứ bước đi trong gương về phía trước, mặc cho máu và lửa vẫn cứ đuổi theo hắn,
đêm ấy hắn ngất đi trước tấm gương, bên cạnh ngọn nến trắng vẫn còn đang cháy, như muốn thắp sáng cái thân phận hắn lên những mảnh gương vỡ,
         Sài Gòn 5/9/2015